Tìm kiếm

Khoa học tìm thấy bằng chứng về khả năng bất tử của giả hạt: Chúng tự tái tạo sau khi đã phân rã

Không có gì tồn tại mãi mãi. Con người, hành tinh, ngôi sao, thiên hà...thậm chí có thể là chính Vũ trụ, mọi thứ đều diệt vong theo đúng chu kì sinh - tử. Nhưng quy luật đó chưa chắc tồn tại trong thế giới lượng tử vì mới đây, các nhà khoa học đã phát hiện ra các giả hạt - quasiparticle trong nhiều hệ lượng tử có thể bất tử theo đúng nghĩa đen.
Các giả hạt không phải là một hạt giống các electron hay quark mà chúng ta đã biết. Chúng chỉ là một hiện tượng xáo trộn diễn ra bên trong vật chất, được tạo ra bởi lực điện hoặc từ trường trong chất rắn và hoạt động giống như các hạt. Trong khi một hạt (electron, proton hoặc neutron) có thể trôi nổi tự do trong không gian, thì một giả hạt chỉ có thể tồn tại bên trong các hệ thống tương tác giữa nhiều hạt (chủ yếu là chất rắn).
Sau khi phân rã, giả hạt có thể tự tái tổ chức để quay về trạng thái cũ.
Sau khi phân rã, giả hạt có thể tự tái tổ chức để quay về trạng thái cũ.
Các giả hạt được coi là bất tử vẫn trải ra quá trình phân rã, nhưng điều kì lạ là sau khi phân rã, chúng có thể tự tái tổ chức để quay về trạng thái cũ.
Điều này dường như đang thách thức định luật thứ hai về nhiệt động lực học, khẳng định rằng tính entropy trong một hệ cô lập chỉ có thể tăng chứ không suy giảm: mọi thứ chỉ có thể bị phá vỡ, chứ không thể tự xây dựng lại. Tuy vậy việc phát hiện ra các giả hạt bất tử cũng không khiến các nhà khoa học đau đầu, vì nhân loại còn biết quá ít về thế giới lượng tử - nơi sở hữu các quy luật đi ngược lại với mô hình vật lý ta vĩ mô mà ta vẫn biết.
Chúng ta đều biết tương tác mạnh là lực liên kết giữa các hạt quark, hạt cấu tạo nên hạt nhân nguyên tử, lực này giữ proton và neutron trong hạt nhân lại với nhau. Với một số hạt nhân nguyên tố nặng, một số neutron bị cách ly khỏi proton sẽ khiến hạt nhân xảy ra hiện tượng phân rã. Nhưng vào tháng 6 năm 2019 nhà vật lý Frank Pollman thuộc Đại học Kỹ thuật Munich lại phát hiện ra một điều kì lạ: "Trước nay, chúng tôi giả định rằng giả hạt trong các hệ thống lượng tử, tương tác phân rã sau một thời gian nhất định nhưng bây giờ chúng tôi biết thêm một điều ngược lại: các tương tác mạnh thậm chí có thể khiến hạt nhân ngừng phân rã hoàn toàn".
Các nhà khoa học tham gia vào nghiên cứu đã phát triển các mô hình số học để tính toán tương tác phức tạp của các giả hạt, sau đó họ chạy mô phỏng trên một siêu máy tính để quan sát cách chúng phân rã.
"Sau khi xem kết quả của quá trình mô phỏng, chúng tôi phải thừa nhận rằng các giả hạt có phân rã, tuy nhiên sau đó xuất hiện các thực thể hạt giống hệt nhau từ các mảnh vỡ", nhà vật lý Ruben Verresen thuộc Đại học Kỹ thuật Munich và Viện Vật lý Max Planck cho biết.
"Nếu sự phân rã diễn ra với tốc độ siêu nhanh thì một phản ứng nghịch đảo sẽ xuất hiện sau một khoảng thời gian nhất định và các mảnh vụn sẽ hội tụ lại. Quá trình này có thể tái diễn vô tận tạo ra một dao động kéo dài giữa sự phân rã và tái sinh".
Và cuối cùng các nhà vật lý đã chỉ ra rằng, nó không vi phạm định luật nhiệt động học thứ hai. Bởi lẽ sự dao động là sóng biến chuyển thành vật chất, điều này được mô tả bởi khái niệm lưỡng tính sóng - hạt, một nội dung có trong cơ học lượng tử. Bên cạnh đó, tính entropy của hệ lượng tử chứa giả hạt không giảm, chúng giữ nguyên. Tuy điều này rất kỳ lạ, nhưng nó không hề phá vỡ các định luật vật lý.
Giả hạt có phân rã, tuy nhiên sau đó xuất hiện các thực thể hạt giống hệt nhau từ các mảnh vỡ.
Giả hạt có phân rã, tuy nhiên sau đó xuất hiện các thực thể hạt giống hệt nhau từ các mảnh vỡ.
Thực tế, phát hiện này đã giải quyết được một vài vấn đề khác. Trong các thí nghiệm trước đây, hợp chất từ ​​tính là Ba3CoSb2O9 có cấu trúc bất ổn, nhưng bây giờ các giả hạt từ tính có trong chất này (có tên magnons) lại chính là mắt xích còn thiếu để giải mã hiện tượng này. Theo mô phỏng trên máy tính, chúng đã tự sắp xếp lại sau khi phân rã.
Ngoài ra các nhà vật lý cũng giải mã được hiện tượng heli trở thành một chất siêu lỏng trở tại mức nhiệt độ thấp tuyệt đối -273,15°C, và việc chuyển trạng thái này có thể giải thích bằng việc heli cũng chứa đầy các giả hạt có tên roton.
Hiện tại, các khám phá này chỉ dựa trên lý thuyết, nhưng các nhà nghiên cứu tin rằng sự bất tử của giả hạt sẽ mang đến tiềm năng cho việc lưu trữ dữ liệu lâu dài trong các hệ thống máy tính lượng tử.
Nghiên cứu đã được công bố trên tạp chí Nature.
Cập nhật: 27/02/2020 Theo Trí Thức Trẻ
Share:

Chuyện gì sẽ xảy ra nếu Mặt trời không còn nữa?

Vào một buổi sáng đẹp và đầy nắng, bạn đang đi dạo thì đột nhiên bầu trời tối sằm lại. Bạn nhìn lên bầu trời nhưng Mặt trời đã biến mất. Bạn vội vã về nhà. Chuyện gì đang xảy ra? Các báo đài loan tin Mặt trời đột nhiên tắt lửa? Vậy điều gì sẽ xảy ra với nhân loại nếu không có Mặt trời? Công nghệ hiện tại có thể giúp chúng ta tồn tại bao lâu?

Những thảm họa thiên nhiên đã từng che Mặt trời

Thực tế trong lịch sử đã có vài lần thảm họa thiên nhiên che kính Mặt trời. Đáng chú ý vào năm 1816 là năm không có mùa hè. Vào ngày 10 Tháng Tư năm 1815, núi lửa Tambora ở Indonesia phun trào khoảng 41 kilomet khối ~ 10 tỷ tấn tro núi lửa vào khí quyển cùng với một số loại khí khác bao gồm carbon dioxide, sulfur dioxide và hydrogen chloride. Cuối cùng, vụ phun trào núi lửa đã gây ra những bất thường về khí hậu nghiêm trọng trong vài năm như hạn chế lượng nhiệt từ Mặt trời khiến thay đổi khí hậu mùa hè ở Bắc bán cầu vào năm 1816.​
Đã có vài lần thảm họa thiên nhiên che kính Mặt trời.
Đã có vài lần thảm họa thiên nhiên che kính Mặt trời.
Ở New England, có một số tuyết rơi lớn vào tháng Sáu. Hồ bị đóng băng suốt cả năm ở các vùng của Pennsylvania. Vào tháng 8, một đợt đóng băng cứng đã thống trị New Hampshire và Maine. Biến động nhiệt độ gây bất lợi cho cây trồng trên khắp thế giới và cuối cùng gây ra nạn đói ở nhiều khu vực. Nạn đói dẫn đến dịch bệnh và dịch tả, giết chết hàng triệu người. Di cư hàng loạt đã xảy ra khi mọi người cố gắng thoát khỏi tình trạng thiếu lương thực. Năm không có mùa hè cũng dẫn đến các cuộc phục hưng tôn giáo khi các nhà giảng thuyết khải huyền nghĩ rằng thế giới đang kết thúc và kêu gọi mọi người hãy đến với Chúa.​

Tìm hiểu về Mặt trời

Bề mặt của Mặt trời nóng đến 5,500 độ C, đủ nóng để làm tan chảy hoặc hóa hơi bất kỳ chất nào mà con người biết đến bao gồm cả kim cương hoặc graphene. Nhưng may mắn Trái đất cách Mặt trời đến 150 triệu km, vừa đủ mát để tạo ra sự sống. Về mặt khoa học, khi các ngôi sao chết, chúng mở rộng. Nhiều khả năng, Mặt trời sẽ mở rộng thành một ngôi sao khổng lồ đỏ và làm bốc hơi các hành tinh bên trong hệ Mặt trời của chúng ta bao gồm cả Trái đất. Tuy nhiên, để Mặt trời trở thành một ngôi sao khổng lồ đỏ sẽ mất 7 - 8 tỷ năm, vì vậy đừng lo lắng quá nhiều. Tuy nhiên, để không quá chủ quan vào công nghệ tiên tiến của nhân loại, hãy giả vờ rằng Mặt trời đột nhiên biến mất và xem nhân loại xoay sở ra sao khi không có Mặt trời.​

Trái đất sẽ ra sao khi Mặt trời biến mất?

Với tốc độ của ánh sáng khoảng 1.080.000.000 km/giờ, những tia sáng cuối cùng từ Mặt trời sẽ đến Trái đất trong vài phút. Vì vậy, nếu Mặt trời đột nhiên biến mất, bạn sẽ có 8 phút rưỡi trước khi Trái đất chìm trong bóng tối. Sau đó, bạn sẽ có thể nhìn thấy mặt trăng và các hành tinh trong hệ Mặt trời của chúng ta trong vài giờ tới, cho đến khi ánh sáng còn lại từ Mặt trời ngừng phản xạ. Mọi thứ chìm dần trong bóng tối … nhưng chúng ta có điện mà, điện sẽ thắp sáng cho chúng ta ... trong một thời gian.​
Những tia sáng cuối cùng từ mặt trời sẽ đến trái đất trong vài phút.
Những tia sáng cuối cùng từ Mặt trời sẽ đến Trái đất trong vài phút.
Trái đất sẽ lạnh đi rất nhanh. Trong khoảng một tuần sau khi Mặt trời biến mất, nhiệt độ bề mặt trung bình của Trái đất sẽ giảm xuống 0 độ C. Sau một năm không có Mặt trời, nhiệt độ sẽ âm 101 độ C. Theo thời gian Trái đất sẽ trở thành một hành tinh băng, sông, hồ và đại dương sẽ đóng băng trên bề mặt và nước ở thể lỏng chỉ còn tồn tại sâu dưới lớp băng này.​
Trái đất sẽ lạnh đi rất nhanh.
Trái đất sẽ lạnh đi rất nhanh.
Hầu hết thực vật sẽ nhanh chóng chết khi không có Mặt trời, quá trình quang hợp sẽ ngay lập tức dừng lại. Những cây lớn khỏe mạnh có thể tồn tại thêm vài thập kỷ mà không cần quang hợp. Thực vật là cột mốc chính trong chuỗi thức ăn, khi thực vật chết, động vật ăn cỏ sẽ nhanh chóng giảm số lượng và động vật ăn thịt cũng không tránh khỏi.​
Một vấn đề khác nếu Mặt trời biến mất, nó sẽ phá vỡ quỹ đạo của các thiên thể trong hệ Mặt trời. Lực hấp dẫn của Mặt trời biến mất khiến tất cả mọi thứ bao gồm các hành tinh, thiên thạch,... sẽ tiếp tục lao thẳng về phía trước. Điều đó có nghĩa là Trái đất chúng ta di chuyển về phía những ngôi sao xa xôi với tốc độ 107.826 km/phút. Về mặt lý thuyết Trái đất có thể bị cuốn vào lực hấp dẫn của một ngôi sao khác và bắt đầu quay quanh nó. Tuy nhiên, quá trình này phải mất vài nghìn năm.

Nhân loại sẽ ra sao khi Mặt trời biến mất?

Trong vòng 24 giờ đầu tiên, các phương tiện truyền thông và internet sẽ tràn ngập những giả thuyết sự kết thúc của thế giới như chúa đã bỏ rơi chúng ta hay người ngoài hành tinh đã phá hủy Mặt trời,... Mọi nơi sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cái lạnh, hơi nước trong khí quyển của chúng ta sẽ ngưng tụ và tuyết sẽ rơi ở hầu hết các khu vực trên thế giới. Nhiều nơi sẽ bị ảnh hưởng bởi bão tuyết. Bầu khí quyển của chúng ta sẽ bắt đầu phân tách thành lớp khí theo mật độ. Các lớp khí dày hơn sẽ hạ xuống mặt đất và các loại khí mỏng hơn sẽ tăng lên, do đó phá vỡ lượng không khí dễ thở có sẵn.​
Mọi nơi sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cái lạnh
Mọi nơi sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cái lạnh.
May mắn nếu bạn đang sống gần biển vì nước sẽ giữ nhiệt lâu hơn và khu vực của bạn sẽ ấm hơn. Sự hoảng loạn bắt đầu lan rộng, mọi người tìm mọi cách giành giật nhau để lấy tất cả những món đồ giúp duy trì cuộc sống như quần áo thời tiết lạnh, đồ sơ cứu, nhiên liệu và thực phẩm. Năng lượng Mặt trời sẽ ngưng hoạt động. Mối nguy hiểm từ xã hội nhanh chóng leo thang, người già ốm và những đứa trẻ sẽ qua đời đầu tiên, sau đó phần lớn dân số chết vì hạ thân nhiệt, đói, thiếu oxy hoặc bạo lực. Khi xã hội tan vỡ và con người chết đi, điện cũng dần mất đi. Không có điện có nghĩa là không có TV, internet, cũng như hệ thống sưởi điện.​
Khi dân số giảm xuống, tình trạng bạo lực cũng giảm theo và những người sống sót sẵn sàng hỗ trợ nhau để cùng tồn tại. Cơ hội sống sót duy nhất của bạn là nhanh chóng xây dựng một môi trường có đủ lượng nhiệt và cách tốt nhất là đào sâu vào lòng đất, nhiệt độ địa nhiệt tăng khoảng 25°C trên mỗi km độ sâu. Sự sống chỉ có thể được duy trì nếu mọi người cùng hợp tác, nguồn thực phẩm bền vững và có hệ thống thoáng khí. Ngoài ra, bạn sẽ cần ánh sáng nhân tạo đủ tốt thay cho ánh sáng Mặt trời để tăng cường sức khỏe.​
Cơ hội sống sót duy nhất là đào sâu vào lòng đất, nhiệt độ địa nhiệt tăng khoảng 25°C trên mỗi km độ sâu.
Cơ hội sống sót duy nhất là đào sâu vào lòng đất, nhiệt độ địa nhiệt tăng khoảng 25°C trên mỗi km độ sâu.
Đây là những gì có thể diễn ra khi không có Mặt trời và những điều bạn cần chuẩn bị để đối phó với nó, từ nay đến 8 tỷ năm nữa, bạn chuẩn bị từ từ đi là vừa nhé!
Share:

Sự thật thú vị về bia không cồn

Sự thật thú vị về bia không cồn

Đối với dân nhậu chuyên nghiệp thì "bia không cồn" thực sự là một sự "báng bổ", bởi vì "uống bia mà không say thì uống để làm gì"? Nhưng với nhiều người thì đây thực sự là một loại đồ uống đáng để thử. Vậy bia không cồn được sản xuất như thế nào? Tại sao vị của nó lại tệ đến vậy? Bài viết này sẽ cho bạn câu trả lời.
Sự thật thú vị về bia không cồn
Có thể bia không cồn không phải là thức uống ưa thích nhiều người Việt, nhưng vẫn có rất nhiều lý do để loại đồ uống này trở nên phổ biến trên thị trường. Nếu là một bà bầu, một người lái xe đường dài hay đang phải dùng thuốc kháng sinh, bạn sẽ làm gì khi cảm thấy thèm bia? 

Bia không cồn là gì?

Bia không cồn được xem là "đồ uống giống bia" nhưng có độ cồn cực thấp (không quá 0.5%).
Xét về nguyên liệu và quy trình sản xuất ra bia không cồn, có thể nói nó giống như bia truyền thống. Khác là, nếu bia truyền thống được đóng chai ngay sau quá trình nấu, lên men... kết thúc thì bia không cồn còn cần trải qua quá trình xử lý hết cồn trước khi thành phẩm.

Nguồn gốc của bia không cồn

Ý tưởng về loại bia không cồn lần đầu xuất hiện ở Mỹ vào năm 1919. Đó là thời kỳ lệnh cấm rượu bia đang có hiệu lực trên toàn lãnh thổ quốc gia này. Khi đó luật pháp Mỹ quy định các loại đồ uống chỉ được phép có độ rượu tối đa là 0,5 độ. Đây quả thực là một con số vô lý, vì thậm chí cả loại bia không cồn ngày nay cũng chỉ lấy đó làm mức trần cho độ rượu của mình. Vì vậy, thời điểm đó một số nhà máy bia ở Mỹ đã bắt đầu sản xuất "đồ uống giống bia", loại nước có màu nhợt nhạt, gần như vô vị, và có độ cồn đúng ở mức 0,5 độ.
Mười ba năm sau, lệnh cấm trên đã được bãi bỏ, nhưng ảnh hưởng của nó thì vẫn còn tiếp tục. Nhiều người Mỹ đã trở nên quen thuộc với loại bia siêu nhẹ, vị ngòn ngọt (so với các loại bia được dùng trong các cuộc nhậu). Đối với những nhà máy bia đã làm ra loại "đồ uống giống bia" trong khoảng thời gian lệnh cấm có hiệu lực, thật dễ dàng để họ tiếp tục sản xuất như bình thường, nhưng có thêm một chút cồn vào sản phẩm. Đây chính là một phần nguyên nhân của sự phổ biến của loại bia nhẹ ở Mỹ (Miller, Coors, Pabst, Bud, ...) ngày nay.
Sự thật thú vị về bia không cồn

Bia không cồn được sản xuất như thế nào?

Quá trình sản xuất bia không cồn bắt đầu giống bia truyền thống. Thực tế nó là sự lặp lại của toàn bộ các bước, từ việc nghiền đại mạch, nấu bia, cho thêm hoa bia (hoa houblon) và thậm chí cả lên men. Nhưng trong khi bia có cồn sẽ được đóng chai ngay khi quá trình trên kết thúc, thì bia không cồn sẽ phải bắt đầu quá trình loại bỏ cồn.
Cách thông dụng nhất để loại bỏ cồn khỏi bia là dùng nhiệt. Như chúng ta đã biết, cồn có nhiệt độ sôi thấp hơn nước (Ở độ cao bằng với mực nước biển là khoảng 80oC). Bia đã lên men sẽ được đun nóng và giữ ở nhiệt độ đó cho tới khi dung dịch chỉ còn độ rượu là 0,5 độ. Tuy nhiên, nhiệt sẽ làm biến đổi đáng kể mùi vị của bia, bởi vì khi đó các nguyên liệu sẽ bị nấu thêm một lần nữa. Để hạn chế điều đó, một vài nhà sản xuất sử dụng phương pháp chưng cất chân không. Nhờ việc thay đổi áp suất không khí, nhiệt độ sôi của rượu có thể giảm xuống tới mức 50oC, mức nhiệt không làm ảnh hưởng nhiều tới mùi vị bia.
Sự thật thú vị về bia không cồn
Một công nghệ khác đôi khi được sử dụng là phương pháp thẩm thấu ngược. Theo cách này, bia sẽ được đi qua một màng lọc có lỗ rất nhỏ để chỉ có rượu và nước (cùng với một vài axit dễ bay hơi) có thể đi qua. Cồn sau đó sẽ được tách ra khỏi hỗn hợp rượu-nước bằng cách sử dụng phương pháp chưng cất thông thường. Cuối cùng nước và hỗn hợp axit sẽ được trộn với hỗn hợp đường và hợp chất lưu lại ở phía bên kia màng lọc, tạo thành bia không cồn. Bởi vì những nguyên liệu chính không bị đun nóng, phương pháp này ít làm ảnh hưởng đến hương vị, nhờ đó sản phẩm được ưa chuộng hơn, mặc dù quá trình này đòi hỏi công nhân phải có tay nghề và cần sử dụng nhiều thiết bị.
Kể cả sau khi cồn đã được loại bỏ, thì đó vẫn chưa phải là sản phẩm cuối cùng. Sau quá trình này, chúng ta đã thu được loại chất lỏng có vị tương đối giống bia, nhưng khá... nhạt. Hầu hết các loại bia truyền thống vẫn tiếp tục quá trình lên men sau khi đã được đóng chai. Quá trình chuyển hóa đường thành rượu này sẽ tạo ra sản phẩm phụ là CO2 – khí tạo bọt bia. Tuy nhiên, điều này không xảy ra ở bia không cồn. Để tạo bọt bia, hầu hết các nhà sản xuất chỉ đơn giản là bơm thêm khí CO2 trong quá trình đóng chai. Kết quả thu được là một loại bia có vị soda! Một vài hãng khác thì cho thêm một ít đường và để nó tự lên men trong chai, nhưng như thế thì lại làm tăng thêm lượng cồn trong bia.

Vì sao bia không cồn có vị lạ?

Những người nghiện rượu có lẽ sẽ quát thẳng vào mặt bạn: "Vì nó không hề có cồn!". Họ không sai, nhưng thực ra, cồn chỉ giúp ta cảm thấy vị đặc trưng của bia. Nó khiến ta cảm thấy khô miệng và làm nổi bật vị ngọt của mạch nha, nhưng bản thân cồn thì thực sự không có vị gì cả.
Nguyên nhân chính của sự thay đổi mùi vị ở đây là quá trình loại bỏ cồn, nhất là đối với phương pháp sử dụng nhiệt. Mùi vị và hương thơm của hoa bia và đại mạch là rất tinh tế, và hầu như không thể tồn tại sau quá trình loại bỏ cồn bằng nhiệt. Hương thơm của hoa bia sẽ biến mất hoàn toàn trong vòng năm phút đầu của quá trình, trong khi mùi vị của nó sẽ mất đi sau mười lăm phút. Đây là lý do vì sao chúng ta không thể kiếm được một loại bia không cồn có mùi vị như bia truyền thống.
Sự thật thú vị về bia không cồn
Một điều nữa bạn có thể hay nghe mọi người phàn nàn là việc bia không cồn có hơi chua chua. Vấn đề này không chỉ có mỗi bia không cồn gặp phải, nhưng khi không có mùi vị của hoa bia lấn át, vị chua trở nên rõ ràng hơn. Như ta đã biết, quá trình thêm CO2 vào bia không những tạo ra bọt bia mà còn tạo ra axit carbonic. Vị chua là đặc trưng của axit, và nó còn trở nên rõ ràng hơn CO2 được bơm trực tiếp vào bia.

Bia không cồn uống không say và uống sao cũng được?

Bia không cồn uống không say, có thể nhưng không tuyệt đối vì bản thân nó vẫn còn chứa 1 lượng cồn nhất định dù nhỏ. Một số người cơ địa nhạy cảm có thể có phản ứng "say" ngay cả với bia không cồn.
Bia không cồn
Số ít người vẫn có cảm giác "say" cả khi uống bia không cồn.
Một người bình thường không nên uống quá 4 lon bia với độ cồn khoảng 3%, để giữ được sự tỉnh táo và hạn chế sự tác động của bia và chất cồn tới cơ thể. Như vậy với bia không cồn (0.5% độ cồn) thì sẽ uống được khoảng 20 lon.
  • Nếu xét về khoa học và dinh dưỡng thì bia không cồn an toàn hơn và tốt hơn cho sức khỏe người uống so với bia truyền thống. Nhưng uống quá nhiều cũng sẽ gây khó tiêu, nặng bụng.
  • Có thể nói bia không cồn chứa lượng cồn cực thấp nhưng không thể khẳng định nó tuyệt đối không ảnh hưởng đến chức năng của gan, thận và nhiều bộ phận chức năng khác của cơ thể người uống.
  • Bên cạnh đó cũng không xác định chính xác được bia không cồn có sử dụng chất tạo mùi hay các chất kích thích thay thế nào khác để tạo sự hưng phấn khi uống bia hay không. Người dùng cũng nên đặt nghi vấn để đảm bảo an toàn cho sức khỏe cá nhân.

Kết luận

Kể cả khi không ngon như bia truyền thống (và thực sự là vậy), bia không cồn vẫn là một loại đồ uống đáng để thử, và nó cũng sẽ không khiến bạn phải cảm thấy xấu hổ mỗi khi gọi đồ. Như đã nói ở trên, có rất nhiều lý do để mọi người uống bia không cồn. Và với việc lệnh cấm bán rượu bia sau 22h rất có thể sẽ được ban hành ở Việt Nam, thì bia không cồn có lẽ sẽ dần trở thành lựa chọn số một của người tiêu dùng Việt.
Cập nhật: 03/01/2020 Theo Vnreview/bachhoaxanh
Share:

phosphorus


Share:

Khi nào nên truyền dịch glucose vào cơ thể?

Đường glucose được bác sĩ chỉ định truyền khi bệnh nhân không thể ăn hay hấp thu dinh dưỡng qua đường tiêu hóa, không nên tự ý truyền.
Bác sĩ Hoàng Hồng Vân, Bệnh viện Việt Đức Hà Nội cho biết, các loại dịch truyền cung cấp dinh dưỡng chứa nhiều thành phần dịch ngọt còn gọi là glucose, đạm hoa quảChỉ định truyền glucose trong trường hợp suy kiệt, ăn uống kém.
Trước khi truyền đường, bác sĩ phải dựa vào kết quả xét nghiệm máu. Việc bù đường chỉ nên tiến hành khi hàm lượng đường trong máu thấp hơn mức cho phép. Khi truyền, bác sĩ phải theo dõi sát bệnh nhân để giám sát mức độ tiến triển bệnh
Bệnh nhân trước khi truyền đường cần xét nghiệm máu và được bác sĩ theo dõi sát.
Tùy ý truyền đường có nguy cơ làm tăng đường huyết trong máu, gây tổn thương hệ thần kinh và mạch máu, xơ vữa động mạch, nhồi máu cơ tim. Có người được truyền dịch nhiều ngày liên tiếp, cơ thể tiếp nhận lượng dịch ngọt quá mức cho phép nên hệ thần kinh bị tổn thương. Khi ấy bệnh nhân bị rối loạn cảm giác, rối loạn chức năng sinh dục, rối loạn hoạt động của các cơ quan và bộ phận. Cơ thể hấp thu chất dinh dưỡng kém hoặc bị biến chứng teo tế bào não. Nhiều bệnh nhân có biểu hiện sốc, co giật, phải cấp cứu ngay nếu không sẽ ảnh hưởng đến tính mạng.
Nhiều trường hợp đã bị sốc phản vệ khi truyền đường. Bệnh viện Việt Đức từng tiếp nhận bệnh nhân bị hạ đường huyết nên truyền liên tiếp 6 chai dịch glucose trong vòng 3 ngày tại bệnh viện địa phương. Khi chuyển đến Bệnh viện Việt Đức, bệnh nhân trong tình trạng sốc, co giật, chưa kịp đưa vào phòng cấp cứu đã bị tử vong. Kết quả giám định pháp y ghi nhận trong phổi bệnh nhân có rất nhiều nước, thành phần chủ yếu là glucose.
Chuyên gia dinh dưỡng Mộc Lan cho rằng thực tế có nhiều người lạm dụng truyền dịch đường để tăng cân. Về mặt dinh dưỡng, truyền nửa lít glucose 5% tương đương ăn một bát cơm. Glucose nồng độ 20% chứa nhiều đường hơn, dùng để truyền khi bệnh nhân không ăn được bằng miệng. Tuy nhiên bác sĩ cảnh báo cần truyền với liều lượng hợp lý.
Bệnh nhân bị suy kiệt, suy dinh dưỡng thường truyền dịch chứa chất đạm, chất béo và vitamin đắt tiền. Tuy nhiên lạm dụng dịch truyền này có thể dẫn đến béo phì, bệnh đường máu, dung mao ruột thoái hóa khiến thức ăn được hấp thụ kém.
“Truyền đường không đúng cách thì người khỏe sẽ thành yếu”, bà Mộc Lan nói.
Bà Lan khuyên, người bệnh bị sốt nhẹ, suy dinh dưỡng, chán ăn ở mức độ trung bình mà vẫn ăn uống được thì không nên truyền dịch, nhất là dịch ngọt. Tốt nhất nên bổ sung bằng thực phẩm như thịt, cá, trứng, sữa... Trường hợp không thể ăn uống được hoặc cơ thể quá thiếu chất mới nên truyền dịch và phải được bác sĩ chỉ định truyền theo liều lượng dựa trên kết quả xét nghiệm.
nguồn: https://khoahoc.tv/khi-nao-nen-truyen-dich-glucose-vao-co-the-94625
Share:

hóa học

Câu 1
Hóa Học Thời Kỳ Trung Cổ
I.                    Đặt vấn đề:
Trong quá trình hình thành và phát triển của con người ở thời kì trung cổ, khi đã đạt đến 1 trình độ nhất định thì  mơ ước về một cuộc sống vĩnh cửu và giàu sang đã khiến các nhà giả kim thuật lao đầu vào những thuật giả kim hão huyền. Tôn giáo và nhà thờ giữ vai trò đặc biệt quan trọng nên các nhà khoa học có tư tưởng duy vật đều bị đàn áp, do đó khoa học bị đình đốn và tạo điều kiện tuận lợi cho giả kim thuật phát triển .Dù vậy, trong cuộc tìm kiếm vô vọng này, họ ít nhiều cũng có được những đóng góp nhất định cho nhân loại.
II.                 Nội dung:
1.      Nguồn gốc hình thành giả kim thuật
Trong suốt nhiều thế kỷ của thời kì cổ đại và trung đại, hóa học chưa phải là một ngành khoa học, nó chỉ dừng lại ở mức độ thuật và được biết đến với cái tên giả kim thuật (alchemy). Đây là thời mà những hiểu biết của con người về nền hóa học xung quanh rất mông muội, ấu trĩ.
Thuật giả kim bắt đầu từ thế kỷ 4 đến đầu thế kỷ 16, thịnh hành ở hầu hết khắp các nước phương Tây và phương Đông. Mục đích kiếm tìm của các nhà giả kim thuật hai phương này cũng khác nhau. Trong khi các nhà giả kim phương Tây tìm kiếm sự giàu sang thông qua các thuật biến bất cứ kim loại bình thường nào thành vàng, thì những đồng nghiệp của họ ở các triều đại phong kiến cổ đại phương Đông lại lao đầu vào điều chế những phương thuốc trường sinh bất tử.
2.      Giả kim thuật Hy Lạp và Ai Cập
·         Mục đích: tìm ra hòn đá thần bí biến kim loại thành vàng.
·         Nguyên nhân: lòng tham muốn có nhiều vàng, cần vàng để làm vật dụng trao đổi tương đương.
·         Thời gian: thế kỉ thứ IV đến giữa thế kỉ thứ VII.
·         Nội dung và đặc điểm:
Ý tưởng biến một nguyên tố thành một nguyên tố khác dựa trên luận điểm của triết học Aristot. Nhu cầu lớn về vàng đã tạo ra sự quan tâm lớn với các nhà thực nghiệm tự nhiên trung cổ.  Vì chủ nghĩa thần bí trở thành hệ tư tưởng của các nhà giả kim, nên họ nghiên cứu việc luyện kim qua lăng kình chiêm tinh và ma thuật. Bởi vậy trong những thế kỉ đầu tiên công nguyên, các kim loại điều chế đều được gọi tên theo các thiên thể.  Trong các bản thảo giả kim thuật còn lưu lại tới nay đó có mô tả phương pháp điều chế kim loại quý bằng cách biến đổi kim loại thường.
Do 4 kim loại Aristot không đủ để lý giải việc luyện kim về mặt hóa học, các nhà giả kim Hy Lạp và Ai Cập bắt đầu xem xét thủy ngân (biểu tượng của tính kim loại) và lưu huỳnh (biểu tượng của tính cháy) như các thành phần chính (nguyên tố) của các kim loại. Nhờ “mạ vàng” và “mạ bạc” mà từ các kim loại thường có thể tiến tới điều chế các chất sơn nhuộm có màu vàng hoặc trắng giống như kim loại đắt tiền.
Các nhà giả kim cho rằng toàn bộ giới tự nhiên đều có sức sống. Bởi vậy họ tin rằng, kim loại lớn lên và chín trong lòng đất. Vàng được coi là kim loại chín hoàn toàn, còn các kim loại thường thì chưa chín. Họ không muốn chờ cho tới khi các kim loại chín dưới tác dụng của tự nhiên, họ cố gắng làm tăng tốc quá trình này nhờ nghệ thuật hóa học. Khi đó lòng tham và khao khát sự giàu có trở thành thói xấu ngăn cản các nhà giả kim nhận thức được giới tự nhiên. Các nhà giả kim cũng thường sử dụng những tên gọi nổi tiếng trong lĩnh vực hoạt động của mình như, nữ thần Isys của người Hy Lạp cổ, thậm chí người sáng lập nghệ thuật giả kim huyền thoại Hermes.
·         Kết quả:
Việc theo đuổi “hòn đá triết học” một cách vô ích để điều chế kim loại quý lại giúp họ hiểu sâu và rộng hơn về các quá trình hóa học sử dụng trong thủ công. Các nhà giả kim đã dùng hỗn hống để làm sạch vàng , sản xuất gốm và thủy tinh, phát hiện ra một số hợp chất hóa học mới, ví dụ: amoni clorua. Họ cũng phát minh ra hàng loạt các dụng cụ hóa học, trong đó có thiết bị để chưng cất.
3.      Giả kim thuật Ả Rập
·         Mục đích: tìm ra hòn đá thần bí biến kim loại thành vàng.
·         Nguyên nhân: lòng tham muốn có nhiều vàng, cần vàng để làm vật dụng trao đổi tương đương.
·         Thời gian: Giữa thế kỉ thứ VII đến đầu thế kỉ thứ XIII. Sau khi chinh phục Ai Cập vào thế kỉ VII,  Syria và hàng loạt các quốc gia ở vùng Cận Đông thì người Ả Rập đã tiếp thu giả kim thuật và truyền bá sang Tây Ban Nha , trung tâm khoa học đã chuyển về Ả Rập.
·         Nội dung và đặc điểm :
Người Ả Rập đã không chỉ tiếp nhận các nền văn hóa Đông Hy Lạp, có nguồn gốc từ trường Alexandria cổ đại, mà còn tự nâng tầm hiểu biết theo sự thúc đẩy của các nhu cầu thực tế. Sự nở rộ kiến thức hóa học được đánh dấu ở cuối thế kỷ VIII, khi các thầy thuốc Ả Rập bắt đầu sử dụng các dược phẩm được bào chế đặc biệt. Trong thời gian này ở Baghdad đã mở hiệu thuốc đầu tiên trên thế giới. Vào đầu thế ký thứ IX, họ đã có giả kim thuật riêng và khác với giả kim thuật của người Hy Lạp
Nhà khoa học nổi tiếng nhất thời điểm đó là nhà y học và giả kim thuật Ả Rập Jabir Ibn Haiyang (Gayan), được biết đến dưới tên Latinh Geber (721- 815). Ông được xem là tác giả của hàng trăm công trình khoa học, trong đó mô tả các quá trình hóa học khác nhau và các thí nghiệm chuyển hóa các chất. Trong các bài luận của Geber có thể tìm thấy những kiến giải lý thuyết về kim loại được vay mượn từ  các nhà giả kim thuật Hy Lạp- Ai Cập. Khi quan sát sự chuyển hóa của các kim loại, ông nghĩ rằng: một kim loại càng tinh khiết thì càng chứa nhiều thủy ngân, và càng kém tinh khiết thì càng chứa nhiều lưu huỳnh. Ông tin rằng các kim loại được hình thành trong lòng đất từ thủy ngân và lưu huỳnh dưới tác động của các hành tinh. Ngược lại với Geber, Avicenna, nhà thực nghiệm tự nhiên, bác sĩ và nhà triết học Trung Á đã bác bỏ khả năng chuyển hóa lẫn nhau giữa các kim loại. Trong khi đó ông tin rằng các kim loại quý có thể phát triển trong lòng của trái đất dưới ảnh hưởng của mặt trăng và mặt trời. Mặc dù Avicenna không đề xuất lý thuyết hóa học mới nào, nhưng ông là một trong những người đầu tiên nghi vấn về mục tiêu của các nhà giả kim thuật.
·         Kết quả:
            Các nhà giả kim thuật Ả Rập đã giữ gìn thành công những kiến thức mà họ được truyền lại từ Ai Cập và Hy Lạp, để rồi sau đó lại được thâm nhập vào Châu Âu. Đồng thời họ đã mở ra những cách thức mới trong việc nghiên cứu tự nhiên. Thành tựu quan trọng là việc sáng lập ra khoa học về bào chế và sử dụng thuốc. Các nhà giả kim thuật đưa ra một số hợp chất của thủy ngân, kẽm, đồng, kiềm và phèn, cùng với các chất chiết xuất từ thực vật, vào thực hành y học. Khi sử dụng phương pháp chưng cất, họ điều chế được các loại tinh dầu và nước cất. Nhà giả kim thuật Ả Rập, sử dụng  một loại thuốc gọi là “vàng có thể uống được”, có các đặc tính chữa bệnh xuất sắc (thuốc chữa bách bệnh hay tiên đan trường thọ).
4.      Giả kim thuật Châu Á
·         Mục đích: tìm ra thuốc trường sinh.
·         Nguyên nhân: tham vọng sống lâu, suốt đời, không có cảnh li biệt.
·         Thời gian: từ các thế kỷ đầu công nguyên.
·         Nội dung và đặc điểm:
Giả kim thuật của người Trung Quốc khác hẳn với giả kim thuật của người Hy Lạp. Trong khi người Hy Lạp cố biến kim loại thường thành vàng thì người Trung Quốc cố tìm kiếm thuốc trường sinh bất lão. Vì thế giả kim thuật Trung Quốc có tên gọi là luyện đan, dựa trên cơ sở học thuyết thần tiên. Các đạo gia chia luyện đan thành ngoại đan và nội đan. Ngoại đan là dùng lửa luyện các khoáng chất như chì, thủy ngân trong các lò đặc biệt biến chúng thành đan dược nuốt vào có thể thành tiên hay trường sinh bất lão.
Thứ được các nhà giả kim thuật Trung Quốc ưa sử dụng nhất là đan sacông thức hóa học là HgS, luyện trong các lò thành vàng, uống vàng đó sẽ trường sinh bất lão. Họ cho rằng đan sa có màu đỏ là màu cao quý, có khả năng chữa bách bệnh, ngoài ra khi đun nóng còn phân tích thành thủy ngân là thứ kim loại kì lạ và có những đặc điểm lý thú. Chính vì thế mà đan sa được xem là tiên dược để luyện thuốc trường sinh.
Do đan sa có độc tính cao nên nhiều trường hợp người xưa đã chết khi sử dụng nó. Vì thế, ngoại đan dần dần suy vi, chỉ còn luyện đan là khởi thủy của ngành luyện kim ngày nay.
Kết quả: vì bị trúng độc do uống kim đan nên ngoại đan dần suy vi, chỉ còn luyện đan là khởi thủy của ngành luyện kim ngày nay .
5.      Giả kim thuật Châu Âu
·         Mục đích: tìm ra hòn đá thần bí biến kim loại thành vàng.
·         Nguyên nhân: lòng tham muốn có nhiều vàng, cần vàng để làm vật dụng trao đổi tương đương.
·         Thời gian: Từ thế kỉ thứ XII giả kim thuật Ả Rập đã bắt đầu mất đi định hướng thực tế, dẫn đến việc mất đi vị trí dẫn đầu. Từ đầu thế kỉ thứ XIII đến đầu thế kỉ thứ XVI. Tới thời gian này, thuật giả kim đã thâm nhập vào Châu Âu thông qua Tây Ban Nha và Sicily.
·         Nội dung và đặc điểm:
Sự cạnh tranh của rất nhiều nhà cầm quyền Châu Âu đã  giúp cho việc tìm hiểu “hòn đá triết học” trở nên ráo riết hơn. Nhiều nhà giả kim thuật châu Âu đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lịch sử  hóa học, chẳng hạn như Roger Bacon (1214-1294) và Raymond Lully (1235-1315).
            Triết gia, tu sĩ dòng Phanxico người Anh Bacon đã tiến hành không ít thí nghiệm để tìm cách chuyển hóa chất này thành chất khác. Bacon đã nghiên cứu tính chất của Amoni Nitrat và các chất khác, ông đã tìm ra phương pháp sản xuất thuốc súng đen. Nhà thơ và nhà thần học Tây Ban Nha, Lully được xem và một trong những nhà giả kim thuật châu Âu nổi tiếng nhất. Trong công trình nghiên cứu về việc “ chuyển hóa linh hồn của kim loại”, ông đã mô tả những công thức chế tạo “hòn đá triết học”.
            Sau những cố gắng tìm kiếm “hòn đá triết học”  không thành công, các nhà giả kim thuật phương Tây đã xem xét lại lý thuyết các kim loại, đã thêm vào thủy ngân và lưu huỳnh một thành phần thứ ba – muối, như là biểu tượng của độ cứng. Với việc phát hiện và phổ biến các chất mới, trong đó có rất nhiều axit, một cách tiếp cận mới để điều chế các kim loại quý đã bắt đầu có thể thực hiện được. Có vẻ như là vàng và bạc kahi thác dễ dàng từ quặng hơn so với việc lãng phí sức mà không mang lại kết quả của việc chuyển hóa giả kim thuật ( chuyển hóa giả kim thuật là sự chuyển hóa của một kim loại thành những kim loại khác, thường có nghĩa là biến kim loại cơ bản thành kim loại quý). Ý tưởng tác động lên quặng bằng các chất phản ứng khác nhau, với mục đích tách riêng kim loại ra dường như rất thuận lợi. Tuy nhiên, mặc dù các nhà giả kim thuật đã theo đuổi mục tiêu xa thực tế, thì nhờ vào công việc của họ đã thu được thông tin về các quá trình hóa học và công nghệ, mà sau này đã được phát triển và hoàn thiện.
·         Kết quả:
            Trong thời kỳ giả kim thuật những nỗ lực nghiên cứu bản chất của các sản phẩm lên men cũng được thực hiện. Trog đó có việc nghiên cứu phương pháp tách rượu nguyên chất và axit axetic, cũng như nghiên cứu một số tính chất của các chất này. Những thành quả của các nhà giả kim thuật trong lĩnh vực thí nghiệm hóa học là rất lớn, các thiết bị mà họ tạo ra, các chất và các phản ứng được khám phá đã được ứng dụng thành công trong sản xuất thủ công. Sự phát tiển của giả kim thuật là nhu cầu cần thiết, thậm chí đối với cả khoa học hiện đại.
III.              Nhận xét:
* Trong cuộc tìm kiếm vô vọng về thuốc trường sinh hay việc điều chế ra vàng đã thất bại nhưng các nhà giả kim đã ít nhiều cũng có được những đóng góp nhất định cho nhân loại:
-          Việc các nhà giả kim dùng thủy ngân trong các thuật giả kim của mình đã gợi ý cho các nhà khoa học nghĩ đến việc dùng thủy ngân để tách vàng nguyên chất trong đá sa khoáng chứa vàng.
-          Nhiều kĩ thuật thí nghiệm hóa học quan trọng cũng được họ hoàn thiện như: Nung, chưng cất, hòa tan, lọc, bay hơi, kết tinh, thăng hoa,...
-          Phát hiện ra các loại axit, bazơ, khoáng chất đã đóng góp vô cùng to lớn cho sự phát triển của hóa học.
-          Những nhà giả kim Trung Hoa với thuật luyện đan của mình cũng đã đặt những nền tảng ban đầu cho ngành luyện kim.

Câu 2
Cái gì cấu tạo nên con người, mọi vật xung quanh con người đã là câu hỏi của biết bao thế hệ con người từ phương Đông đến phương Tây. Con người luôn cố gắng đi tìm lời giải đáp cho câu hỏi: vật chất cấu tạo như thế nào, mọi vật thiên hình vạn dạng liệu nó sẽ có một đầu mối chung với nhau hay không, hay chỉ là những cấu tạo riêng lẽ do một đấng siêu nhiên nào đó tạo ra. Và để giải đáp những thắc mắc đó chúng ta sẽ đi tìm hiểu về thuyết nguyên tử và sự hình thành - phát triển của nó qua các giai đoạn trong lịch sử loài người cũng như trong lịch sử hóa học.
Bản chất của vật chất hay đó là bản chất của thế giới đã được các nhà hiền triết, bác học lỗi lạc của các thời đại xa xưa đưa ra với những luận điểm cơ bản. Trong đó, Từ 500 năm trước công nguyên, Anaxagoras đã quan niệm vật chất được cấu tạo nên không phải do những thành phần rất nhỏ xác định, khiến cho việc nhân đôi không ngưng.Thales (640 - 546 TCN) được mệnh danh là một trong bảy người hiền thời Hy Lạp Cổ Đại có quan niệm bản chất của thế giới là nước. Ông lập luận nước đông lại thành chất rắn, nước bốc hơi thành chất khí, suy cho cùng mọi thứ đều bắt nguồn từ nước.Empecdoc (khoảng 490 - 430 TCN) nếu giả thuyết rằng vũ trụ được cấu tạo từ 4 nguyên tố vật chất: lửa, không khí, nước và đất. Trong số các nhà triết học và khoa học nguyên cứu về bản chất của vật chất thời kỳ đó, người có phát biểu đúng đắn hơn cả đó là Democrite. Ông đã đưa ra những nhận định về nguyên tử như: các nguyên tử nhiều vô hạn và vô số hình dạng,..hay các nguyên tử hoàn toàn giống nhau về chất lượng, chúng tác động lên nhau bằng sức nén và va chạm,ngoài ra còn có vật khác nhau vì được tạo thành bởi những nguyên tử có số lượng, độ lớn hình dạng và cách sắp xếp khác nhau. Cùng với đó là nhận định của nhà triết học vĩ đại Aristore đã hoàn toàn phủ nhận nguyên tử luận, vì theo ông thì chân không là một cái gì đó không thể không có mà nguyên tử luận của Democrite cần phải có chân không. Aristore chủ trương rằng thế giới vật chất do bốn nguyên tố tạo thành: đất; nước; không khí; lửa. Các nguyên tố có thể biến đổi lẫn nhau. Bốn nguyên tố mang tính chất nguyên là khô; ẩm; nóng; lạnh phân bố như sau:
- Đất thì khô và lạnh.
- Nước thì lạnh và ẩm.
- Không khí thì ẩm và nóng.
- Lửa thì nóng và khô.
Trong đêm trường của các thời đại trong việc định hình nguyên tử theo cấu tạo của các vật chất ở hai khía cạnh duy tâm và duy vật. Đến thế kỉ 17 các học thuyết mới đã xuất hiện mang tính đúng đáng thực nghiệm hơn Thuyết phlogiston thế kỷ 17 được Johann Joachim Becher đưa ra lần đầu tiên vào năm 1667. Học thuyết cho rằng tất cả những vật chất có thể cháy được đều chứa Phlogiston, một dạng vật chất không có màu, mùi, vị, hay khối lượng, và được giải phóng trong sự cháy. Antoine Lavoisier (1743-1794 ) thấy rằng vật chất không được tạo ra hay bị hủy diệt mà đã phối hợp với nhau để tạo nên các chất mới. Điều này đã đưa Lavoisier đến sự phân biệt giữa hợp chất và đơn chất, tức là chất không thể làm cho đơn giản hơn. Trong giai đoạn này có sự tranh luận gây gắt của các nhà khoa học về sự thống nhất của nguyên tử.
Các cuộc tranh luận đó chỉ chấm dứt khi xuất hiện tác phẩm của một nhà khoa học người Anh là John Dalton. Dựa trên định luật về bảo toàn khối lượng và định luật tỷ lệ các chất t rong các phản ứng hóa học vào năm 1808, John Dalton (1766-1844) đã đưa ra lý thuyết nguyên tử của mình để giải thích các định luật trên. Lý thuyết của ông dựa trên 5 giả thuyết. John Dalton
Với nội dung chính là
(i) Mọi chất đều được cấu tạo từ một số rất lớn những hạt rất nhỏ, không thể phân chia được gọi là nguyên tử.
(ii) Nguyên tử là những hòn bi nhỏ, giữa chúng có lực hút và lực đẩy.
(iii) Nguyên tử có khối lượng xác định, khối lượng này thay đổi từ nguyên tử của nguyên tố này sang nguyên tử của nguyên tố khác. Khối lượng của các nguyên tử được so sánh với khối lượng nguyên tử Hiđro chọn làm khối lượng đơn vị (đó là khối lượng tương đối mà sau này chúng ta gọi là nguyên tử lượng).
(iv) Các đơn chất bao gồm những nguyên tử giống hệt nhau, còn hợp chất là sự kết hợp các nguyên tử thuộc những loại khác nhau.
Huân tước Kenvin (1824-1907), Lbriluanh, Peranh (1870-1942) người Pháp…đã xác định được giá trị của số Avogađro bằng 6,022169.1023/mol. Avogađro  Biết được giá trị số Avogađro, chúng ta đã biết thế giới vi mô một cách định lượng. Nó là cầu nối thế giới của chúng ta với thế giới vô cùng nhỏ. Nhờ sự phát triển của khoa học từ sau thời kỳ phục hưng cho đến cuối thế kỷ 19, con người đã hiểu biết về cấu tạo của vật chất như thế nào? Người ta biết rằng trong thiên nhiên có hai loại vật chất: đơn chất như oxy, hidro, clo, sắt,đồng, urani… và các hợp chất như muối, nước, rượu… nếu ta đem một hạt muối biển phân chia mãi cho đến khi không thể phân chia được nữa mà vẫn giữ các tính chất của muối thì phân tử nhỏ nhất ấy được gọi là một phân tử muối. Phân tử lại do các nguyên tử cấu tạo nên. Ví dụ một phân tử muối cấu tạo bằng một nguyên tử clo và một nguyên tử natri. Một phân tử nước gồm hai nguyên tử hidro và một nguyên tử oxy.
v Bằng chứng thực nghiệm chứng tỏ sự tồn tại của nguyên tử:
 Cho tới những năm đầu thế kỷ XX, khi lý thuyết nguyên tử do Dalton sáng lập đã được một thế kỷ với rất nhiều bước tiến quan trọng, nhưng vẫn còn nhiều nhà bác học không tin vào sự tồn tại của nguyên tử.
Vì vậy, nhiệm vụ to lớn được đặt ra cho các nhà bác học ở thế kỷ XX là chứng minh bằng thực nghiệm sự tồn tại của các nguyên tử. Đầu tiên với sự đóng góp của nhà bác học Einstein. Khi Einstein công bố bài báo về thuyết tương đối hẹp và hiệu ứng quang điện của ông vào năm 1905 thì ông cũng đang viết về thống kê của chuyển động Brao, chỉ rõ va chạm của các nguyên tử có thể liên quan đến những nhiễu loạn thấy được rất nhỏ của các hạt lơ lửng như thế nào.
Tiếp theo là Perrin từ năm 1908-1909, ông chứng minh sự tồn tại của các phân tử đồng thời xác định được số Avogađro với độ chính xác cao bằng nhiều thí nghiệm khác nhau nhưng tất cả đều dựa trên một hiện tượng là chuyển động Brao.

Lý thuyết nguyên tử của các nhà bác học ở thế kỷ XIX mới chỉ cho phép ta biết vật chất được cấu tạo từ các nguyên tử và phân tử. Câu hỏi tiếp theo cho các nhà khoa học là nguyên tử được cấu tạo như thế nào? Câu trả lời vấn đề này sẽ được tiếp tục giải quyết ở thế kỷ XX. Với cơ sở khám phá ra electron và phóng xạ của năm 1902, Thomson đã đề xuất ra mô hình cấu tạo nguyên tử. Nguyên tử gồm có những electron nằm trong môi trường tích điện tích dương, phân bố đều đặn trong một thể tích hình cầu. Các electron có thể đứng yên hay chuyển động. Ở trạng thái ổn định chúng tạo thành nhiều lớp đồng tâm, mỗi lớp chứa một số electron nhất định. Bánh quả mận và chocolate là những món ăn hiện đại và là hình dạng của nguyên tử của Thomson Mô hình của Thomson được thừa nhận hơn mô hình của Nagoaka nhưng nó cũng chỉ đứng vững được vài năm cho đến khi nhà vật lý người New Zealand là Ernest Rutherford (1871-1937) đưa ra mô hình nguyên tử của ông
Mẫu nguyên tử của Rutherford Mẫu nguyên tử Rutherford được xác định dựa trên sự tương tự giữa hệ thống nguyên tử và hệ thống Mặt Trời.
Mô hình nguyên tử gồm: một hạt nhân mang điện tích dương, có kích thước rất nhỏ, có khối lượng gần bằng khối lượng của cả nguyên tử, xung quanh hạt nhân có các electron chuyển động, tổng điện tích âm của các electron bằng điện tích dương của hạt nhân. So sánh kết quả thực nghiệm với lí thuyết, người ta phát hiện thấy một điều đặc sắc số electron trong nguyên tử đúng bằng số thứ tự của nguyên tố trong bảng tuần hoàn. Vậy mẫu nguyên tử Rutherford hoàn toàn khác so với mẫu nguyên tử Thomson.
Năm 1913, nhà vật lý lý thuyết người Đan Mạch (1885- 1962) đưa ra mô hình bán cổ điển về nguyên tử hay còn gọi là mô hình nguyên tử của Bohr. Nội dung của thuyết nguyên tử Bohr được xây dựng trên hai định đề và một điều kiện về lượng tử hóa mômen động lượng quỹ đạo. Những định đề này được đưa ra dựa trên cơ sở vận dụng khái niệm lượng tử năng lượng của Planck và khái niệm photon ánh sáng của Einstein kết hợp với những nội dung của lý thuyết Rutherford và tính quy luật của quang phổ nguyên tử hiđro. Ở tiên đề Bohr ông đã đưa ra các tiên đề với nội dung đề cặp về các mức năng lượng ở các quỹ đạo xác định, không có sự chuyển hóa năng lượng khi electron nằm trên quỹ đạo dung và electron muốn chuyển giữa các quỹ đạo phải hao tốn năng lượng hoàn toàn xác định hv = E1 - E2 . Để khắc phục những khó khăn của mẫu nguyên tử Bohr trong việc giải thích quang phổ của kim loại kiềm (sự xuất hiện những vạch đôi) năm 1915, Sommorfold (1868-1951) người Đức phát triển thêm mẫu nguyên tử Bohr như sau: ngoài các quĩ đạo tròn, ta phải xét đến các quĩ đạo elip. Ứng với một giá trị năng lượng En có thể có nhiều quỹ đạo elip khác nhau và mômen quỹ đạo (mômen động lượng của các electron trên các quĩ đạo đó cũng khác nhau).
Kết quả là: Năng lượng của electron vẫn được tính như trên, nhưng qui luật lượng tử hóa mômen quĩ đạo đã khác:
  
Thế kỉ 19 và 20  với hàng loạt phát hiện về cấu tạo của nguyên tử đã kéo theo nền khoa học càng ngày càng phát triển với các nhận định rõ ràng hơn về vật chất, về sự tồn tại của các hạt cơ bản trong sự sống qua nguyên cứu của hàng loạt các nhà bác học, khoa học lỗi lạc Einstein - về học thuyết ánh áng, thuyết tương  đối.  Schrodinger - phương trình hàm sóng-
Heisenberg -“Nguyên lý bất định”.-,… Điều này chứng tỏ các hạt vi mô khác với các vật vĩ mô thông thường. Các hạt vi mô vừa có tính chất sóng lại vừa có tính chất hạt, đó là một thực tế khách quan đặc trưng của hạt vi mô. Mỗi hạt vi mô vừa mang tính sóng, vừa mang tính hạt. Hai tính chất này mâu thuẫn nhau, nhưng dựa vào nhau mà tồn tại song song trong cùng một hạt. Việc không đo được chính xác đồng thời cả tọa độ và xung lượng của hạt là do bản chất của sự việc chứ không phải do trí tuệ của con người bị hạn chế. Ngoài việc quay trên quỹ đạo quanh hạt nhân, electron còn tự quay quanh trục của nó. Nơ học lượng tử đã cho ta một hình ảnh chính xác về cấu trúc của một nguyên tử. Nguyên tử là một hệ thống gồm có hạt nhân là trung tâm và các electron phân bố quanh hạt nhân theo các quy luật xác suất thống kê lượng tử, chứ chúng không chuyển động theo quỹ đạo nào cả. Về mặt hình thức có thể hình dung electron bao quanh hạt nhân như một “đám mây xác suất” – nơi nào sự có mặt của electron thường xuyên hơn thì nơi đó xác suất tìm thấy electron lớn hơn các nơi khác. Nơi nào không có electron thì xác suất tìm thấy nó
Với sự ra đời của vật lý hiện đại, quan niệm cơ học hoàn toàn sụp đổ cùng với bức tranh vât lý cổ điển và 1 bức tranh vật lý mới ra đời: Bức tranh tương đối – lượng tử, lấy theo tên gọi của 2 lý thuyết quan trọng nhất đầu thế kỉ XX là thuyết tương đối và thuyết lượng tử.
Người ta vạch ra được các yếu tố cơ bản cấu tạo nên vũ trụ, từ những hạt nhỏ nhất và các lực liên kết chúng lại, tóm tắt trong “mô hình chuẩn” gồm có:
v  12 hạt cơ bản, với nghĩa là với trình độ khoa học ngày nay người ta chưa tìm thấy cấu trúc bên trong của các hạt này, là 6 hạt họ Lepton và 6 hạt Quack.
v 4 trường tương tác là trường hấp dẫn, trường điện từ, trường tương tác yếu và trường tương tác mạnh.
Một trong những bước đột phá về thành tựu của Vật lý hiện đại là sự phá vỡ quan niệm về cấu trúc nguyên tử của thuyết cổ điển và bán cổ điển để hình thành nên thuyết hiện đại hay thuyết lượng tử. 
Hạt nhân nguyên tử được gọi tắt là hạt nhân, là cấu trúc đặc khít (có khối lượng đạt đến 100 triệu tấn trên centimet khối), chiếm chủ yếu của nguyên tử. Về cơ bản, theo các hiểu biết hiện nay thì hạt nhân nguyên tử có kích thước bán kinh nằm khoảng 10-15 m, được cấu tạo từ hai hạt: proton (mang điện tích dương) và neutron (không mang điện).
Năm 1913, nhà vật lý người Anh Henry Gwyn Jeffreys Moseley (1887-1915) thấy rằng mỗi nguyên tố có một điện tích dương duy nhất tại hạt nhân của nguyên tử. Do đó hạt nhân phải chứa một loại hạt mang điện tích dương được gọi là proton. Số proton trong nguyên tử được gọi là nguyên tử số. Proton được cấu thành từ 3 hạt quark. Proton được cấu tạo từ 3 hạt quark thuộc loại hạt Fermion gồm có 2 quark xuống và 1 quark lên với Spin là ½. Các hạt này liên kết vói nhau bởi lực điện từ, hấp dẫn. tương tác mạnh yếu. Notron Nhà vật lý người Pháp Irene Joliot-Curie (1897-1956) đã tiến hành một thí nghiệm, bà bắn phá một mẫu Berili bằng chùm alpha và làm phát ra một chùm hạt mới có khả năng thấm sâu vật chất hơn nhiều lần chùm alpha. Năm 1932, nhà vật lý người Anh James Chadwick (1891-1974) phát hiện ra rằng chùm hạt đó được tọa thành từ các hạt có cùng khối lượng với proton. Do điện từ trường không làm lệch hướng chuyển động của hạt này nên nó là một hạt trung hòa về điện và ông gọi nó là neutron. Cấu trúc quark của neutron: Mỗi neutron gồm hai quark xuống và một quark lên. Các neutron đóng vai trò quan trọng trong nhiều phản ứng hạt nhân.
Như vậy, việc nhận biết được nguyên tử gồm nhiều điện tử chuyển động quanh hạt nhân và cấu trúc bên trong hạt nhân là một thành tựu lớn của khoa học vô cùng quan trọng ở thế kỉ XX.
Lịch sử hình thành của nguyên tử cũng giống như rất nhiều ngành khoa học khác, đã đưa ra được những quan điểm khác nhau để từ đó tìm ra được bản chất của cấu tạo của nguyên tử, từ lý thuyết sơ khai đến hiện đại. Từ đó góp phân vào giải quyết các vấn đề khoa học có liên quan. Các giai đoạn khám phá và đấu tranh để loại bỏ các định nghĩa sai về nguyên tử phải trải qua thời gian dài và có tính kế thừa từ các quan điểm cũ. Từ đó bản chất của nó được tìm rõ ràng hơn, chi tiết hơn từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất. Và cứ như vậy thì sẽ còn nhiều điều mới mẽ đang chờ đợi con người khám phá ở phần nguyên tử này. Quá trình khám phá nguyên tử cũng là phát triển của thế giới nhân loại về việc nhận thức thế giới giữa vật chất và ý thức hay giữa duy tâm và duy vật. Việc có định nghĩa đúng đắng của nguyên tử cũng bắt nguồn từ những quan niệm về thế giới ngày càng đúng đắn của con người. Và việc tìm ra được rõ cấu trúc của nguyên tử đã thúc đẩy nền khoa học hay hóa học nguyên tử của thế giới có 1 cơ sở vũng chắc để phát triển và có những bước nhảy mới trong tương lai.

CÂU 3
Cùng 1 nguyên tố có thể có những tính chất vật lý rất khác nhau tùy thuộc vào chất đơn chất mà nó tạo thành. Những gì chúng tôi có thể nói về tính chất hóa học, điều mà xác định khả năng phản ứng của các chất? Dưới đây là bức tranh phức tạp hơn nhiều. Vì vậy, mọi nỗ lực bằng các cách khác nhau nhằm phân loại các nguyên tố dựa trên tính chất hóa học của các chất được hình thành từ chúng đã không thành công. Và Mendeleev là người đã thành công nhất trong việc tìm kiếm các quy luật đó. Khi đã đưa ra hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học.
Dmitri Ivanovich Mendeleev  (8 tháng 2 [ 27 tháng 1] năm 1834 – 2 tháng 2 [ 20 tháng 1] năm 1907), là một nhà hoá học và nhà phát minh người Nga. Ông có tham gia nhiều nguyên cứu về vật lý học, hóa học với các cuốn sách về kính quang phổ, Mendeleev trở thành Giáo sư Hoá học tại Viện Công nghệ Nhà nước Saint Petersburg và Đại học Nhà nước Saint Petersburg năm 1863. Năm 1865 ông trở thành Tiến sĩ Khoa học với luận văn "Về những hoá hợp của Nước và Rượu". Ông được bổ nhiệm năm 1867, và tới năm 1871 đã biến Saint Petersburg thành một trung tâm được quốc tế công nhận trong lĩnh vực nghiên cứu hoá học. Dù Mendeleev được các tổ chức khoa học trên khắp châu Âu ca tụng, gồm cả Huy chương Copley từ Viện Hoàng gia London, ông đã từ chức khỏi Đại học Saint Petersburg ngày 17 tháng 8 năm 1890. Năm 1893, ông được chỉ định làm Giám đốc Phòng Cân và Đo lường. Chính trong vai trò này ông đã được giao trách nhiệm hình thành những tiêu chuẩn nhà nước mới cho việc sản xuất vodka. Nhờ công việc của ông, năm 1894 các tiêu chuẩn mới cho vodka được đưa vào trong luật Nga và mọi loại vodka phải được sản xuất với nồng độ 40% cồn. Năm 1905, Mendeleev được bầu làm một thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thuỵ Điển. Đồng thời trong năm này ông được tặng thưởng Huy chương Copley vàng danh giá. Năm sau Hội đồng Nobel Hoá học đã đề xuất với Viện Hàn lâm Thuỵ Điển trao Giải Nobel Hoá học năm 1906 cho Mendeleev vì phát minh ra bảng tuần hoàn của ông nhưng ông đã không được trao giải. Trong đó đóng góp to lớn của ông cho nền hóa học nhân loại ở năm 1871, Mendeleev đã công bố “hệ thống tự nhiên các nguyên tố và các ứng dụng của nó vào việc đưa ra tính chất của các nguyên tố chưa được khám phá”.
Định luật tuần hoàn được phát minh bởi nhà hóa học lỗi lạc người Nga D.I Mendeleev vào năm 1869 trong quá trình làm việc trên văn bản của sách giáo khoa "Nền tảng hóa học." Vào thời điểm đó, người ta đã biết về sự tồn tại của 63 nguyên tố hóa học. Nhà hóa học người nga đã gặp khó khăn trong việc hệ thống hóa các số liệu thực tế của các nguyên tố và hợp chất của chúng. Mendeleev đã dần dần đi đến kết luận rằng, tồn tại mối quan hệ nào đó giữa tính chất và trọng lượng nguyên tử của các nguyên tố. Bước đầu tiên cho sự xuất hiện của quy luật tuần hoàn là " hệ thống thực nghiệm của các nguyên tố, dựa trên trọng lượng nguyên tử và sự tương đồng hóa học của chúng" (Hình 3.3). Khi lập bảng, Mendeleev đã tránh được các lỗi của Newlands, người đã tin rằng trong mỗi một dãy phải chứa cùng một số nguyên tố. Ông thiết lập một thứ tự thay đổi chiều dài của các dãy (chu kỳ) này. Mendeleev đã để lại trong bảng những chỗ trống, mà sự hiện diện của chúng được ông giải thích rằng vẫn còn có các nguyên tố tương ứng chưa được phát hiện.
Sau đó, Mendeleev đã đưa ra định luật: "Tính chất của các nguyên tố, và cả các tính chất của các đơn chất và hợp chất được tạo thành từ chúng có một phụ thuộc tuần hoàn với khối lượng nguyên tử của chúng". Giả định cơ sở định luật của mình là sự tương đồng tính chất của các nguyên tố và hợp chất của chúng, Mendeleev đã không quá đi sâu tìm hiểu nguyên lí tăng khối lượng nguyên tử. Trong một số trường hợp, ông đã buộc phải đặt nguyên tố có khối lượng nguyên tử lớn hơn trước nguyên tố có khối lượng nguyên tử nhỏ hơn. Mendeleev đã cân nhắc rằng khối lượng nguyên từ của một số nguyên tố có thể đã được xác định không chính xác.
Trước đây khái niệm trọng lượng được đồng nhất hóa với khái niệm khối lượng, tuy nhiên giờ đây chỉ còn được sử dụng như là khái niệm lực tương tác giữa vật chất với trường lực hấp dẫn. Để đặc trưng cho quán tính của vật chất và khả năng tạo trường lực hấp dẫn người ta sử dụng khái niệm khối lượng. Mặc dù khối lượng được xác định bằng cân, kết quả của sự cân chính xác hơn được gọi là khối lượng chứ không phải trọng lượng. Do đó, khái niệm trọng lượng nguyên tử được thay thế bằng "khối lượng nguyên tử". Ngay cả trong bảng tuần hoàn hiện đại cũng được biết đến một số trường hợp ngoại lệ trong thứ tự tăng dần khối lượng nguyên tử, đó là đặc tính của các thành phần đồng vị của các nguyên tố:
Định luật tuần hoàn không có biểu thức toán học số lượng nào dưới hình thức phương trình hay công thức. Qui luật tuần hoàn được biểu diễn dưới dạng bảng – bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Trong suốt quá trình hình thành đã có hơn 50 bảng hệ thống tuần hoàn khác nhau được công bố. Ngày nay, phổ biến nhất là bảng hệ thống tuần hoàn được đề xuất bởi Mendeleev dưới dạng bảng ngắn và dài. tử, đó là đặc tính của các thành phần đồng vị của các nguyên tố: Định luật tuần hoàn không có biểu thức toán học số lượng nào dưới hình thức phương trình hay công thức. Qui luật tuần hoàn được biểu diễn dưới dạng bảng – bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Trong suốt quá trình hình thành đã có hơn 50 bảng hệ thống tuần hoàn khác nhau được công bố. Ngày nay, phổ biến nhất là bảng hệ thống tuần hoàn được đề xuất bởi Mendeleev dưới dạng bảng ngắn và dài.  
Năm 1871, Mendeleev đã công bố “hệ thống tự nhiên các nguyên tố và các ứng dụng của nó vào việc đưa ra tính chất của các nguyên tố chưa được khám phá”. Trong bài báo này, Mendeleev đã mô tả chi tiết ba nguyên tố chưa được phát hiện và đưa vào bảng của mình ở vị trí giữa canxi và titan; giữa kẽm và asen. Mendeleev đặt tên cho chúng là "ekabor", "ekaalumium" và "ekasilic" – theo tên gọi của các nguyên tố đã biết mà các nguyên tố mới này là các nguyên tố tương tự với chúng.
Sau khi nghiên cứu tính chất của nó, Winkler nói rằng nguyên tố do ông phát hiện ra hoàn toàn trùng hợp với "ekasilicium" của Mendeleev. Ông là một trong những người đầu tiên đã đánh giá cao nhất học thuyết tính chu kỳ, tính đúng đắn của nó đã được chứng minh bởi "sự hiện thực hóa giả thiết ekasilicium một lần nữa trong nguyên tố mới được tìm thấy", được gọi là germanium. Đến trước khi bảng hệ thống tuần hoàn được phát minh bởi Mendeleev chỉ có một vài nguyên tố được biết đến, mà sau này người ta gọi là các nguyên tố đất hiếm: yttrium, lantan, xeri, praseodymium, terbium và erbium. Mendeleev đã sắp xếp những nguyên tố này trong nhóm thứ ba và thứ tư trong bảng của mình, nơi vẫn còn có những ô trống. Thời gian sau đó bắt đầu xuất hiện tất cả các nguyên tố còn lại của nhóm các nguyên tố đất hiếm.
Tính chất hóa học của các nguyên tố đất hiếm giống nhau một cách lạ thường, khối lượng nguyên tử của chúng cũng khác nhau rất ít, và vị trí dành cho chúng trong nhóm 3 và 4 của bảng hệ thống tuần hoàn là không đủ. Theo những điểm tương đồng về tính chất thì các nguyên tố đất hiếm phải nằm trong một nhóm riêng biệt. Ngoài ra, dựa trên khối lượng nguyên tử của các nguyên tố (ngoại trừ ytri), người ta sắp xếp chúng liền nhau trong cùng một chu kì giữa bari và tantali. Kết hợp hai điều kiện này dường như là không thể. Mendeleev đã cố gắng để giải quyết vấn đề này. Kể từ năm 1881, ông đã trao đổi thư từ với các nhà hóa học Séc Bohuslav Brauner (1855-1935), người đã cống hiến sự nghiệp khoa học của mình cho hóa học các nguyên tố đất hiếm. Năm 1902, Brauner đề nghị sắp xếp các nguyên tố đất hiếm trong một nhóm đặc biệt "interperiodi  Cheskaya", nối tiếp nhóm 4 và bắt đầu từ xeri. Mendeleev cũng có xu hướng kết luận rằng các yếu tố đất hiếm cần được sắp xếp trong một nhóm riêng biệt. Đối với một số nguyên tố được phát hiện sau sự ra đời của bảng hệ thống tuần hoàn, đã không có sẵn vị trí của chúng ngay trong bản đầu tiên của bảng tuần hoàn. Trong lưu trữ của Mendeleev được tìm thấy một số lượng không nhỏ các bản phác thảo, trong đó vào năm 1869 ông đã phác thảo bản các nguyên tố có hóa trị chẵn. Khối lượng nguyên tử của các nguyên tố theo qui luật sẽ cách nhau bốn đơn vị. Tuy nhiên sự cách biệt giữa khối lượng nguyên tử oxy và magiê; canxi và lưu huỳnh là 8. Mendeleev đã thừa nhận khả năng tồn tại các nguyên tố chưa được biết đến, mà theo logic của cơ sở bảng hệ thống tuần hoàn thì chúng có hóa trị 0 và nằm ở các vị trí giữa oxy và magiê; lưu huỳnh và canxi. Những quan điểm của ông được sáng tỏ khi được các nhà khoa học khác tìm ra các nguyên tố theo đúng như dự đoán của mình đó là Jules Janssen (1824-1907), Anh Norman Lockyer (1836-1920 tìm ra nguyên tố đó là heli. Họ đã chỉ ra rằng khí được tách ra không hề tác dụng với bất kì một chất hóa học nào, vì vậy nó được đưa vào nhóm “khí hiếm”. Năm 1898 Ramsay và sinh viên của mình Morris William Travers (1872-1961) bằng phương pháp quang phổ đã phát hiện ra thêm một vài khí hiếm nữa: neon, kripton và xenon.
Mendeleev tin rằng các ô trống có thể không chỉ ở bên trong mà còn có thể ở bên ngoài bảng hệ thống tuần hoàn. Đến giữa thế kỷ XX các ô trống bên trong bảng hệ thống tuần hoàn đã không còn, nhưng việc tìm kiếm các nguyên tố mới vẫn được tiếp tục.


Share:
Bản quyền thuộc Trần Văn Trung Hải . Được tạo bởi Blogger.

Trang Cá Nhân

Trang Cá Nhân
Nhấp vào hình ảnh để chuyển đến trang cá nhân

Liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Bài viết gần đây

Các Trang